Ảnh: Viện Geena Davis về Giới trong Truyền thông

Cả thế. giới đang cố gắng tăng cường sự tham gia của phụ nữ và trẻ em gái trong các ngành. khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học (gọi tắt là STEM). Đã có không ít tín hiệu đáng mừng, dù diễn ra chưa đồng đều. Và phụ nữ theo đuổi STEM vẫn còn bị “dán nhãn” và chịu nhiều định kiến vô lý.

“Nữ” tỉ lệ thuận với “khoa học mềm”

Khi có nhiều phụ nữ hoạt động trong một lĩnh vực STEM bất kỳ, người ta sẽ có xu hướng gắn cho nó cái mác “khoa học mềm”, theo kết quả một loạt thí nghiệm gần đây của Mỹ đăng trên tập san tâm lý học Journal of Experimental Social Psychology.

Trong thí nghiệm đầu tiên, các nhà nghiên cứu đưa cho mỗi người tham gia những thông tin không giống nhau về sự hiện diện của phái nữ trong các ngành STEM, như hóa học, xã hội học, y sinh… và yêu cầu xếp chúng vào 2 nhóm “khoa học cứng” và “khoa học mềm”.

“Cứng” và “mềm” là cách phân loại không chính thức của giới hàn lâm, dựa trên mức độ chặt chẽ, chuẩn xác và khách quan của mỗi bộ môn. Theo đó, nhóm khoa học tự nhiên - vốn không bị ảnh hưởng bởi cảm xúc và ý kiến cá nhân thì được xem là “cứng”, còn nhóm khoa học xã hội (như tâm lý học, nhân học, khoa học chính trị) thì được xem là “mềm”.

Ấy thế mà trong thí nghiệm trên, người tham gia gọi một ngành khoa học là “mềm” không phải dựa trên bản chất của nó, mà dựa trên dữ kiện rằng “có nhiều phụ nữ đang theo đuổi nó”!

Thí nghiệm thứ 2 cho thấy: trong mắt những người không hoạt động nghiên cứu, mối liên hệ giữa “nữ giới” và “khoa học mềm” có tương quan với định kiến của họ về năng lực STEM của phụ nữ. Và loạt thí nghiệm thứ 3 còn phơi bày một sự thật khó chịu hơn: các lĩnh vực bị gắn nhãn “mềm” bỗng trở nên… “mất giá”, bị cho là “kém khắt khe”, “kém tin cậy”, và “ít xứng đáng” với tiền tài trợ.

Bao lâu nay, trong niềm tin của những người ủng hộ, càng nhiều phụ nữ tham gia các ngành nghề STEM - với mức lương cao - sẽ giúp rút ngắn khoảng cách thu nhập giữa 2 giới. Nhưng điều đó có lẽ khó mà thành sự thật, bởi theo nghiên cứu, nhiều người có xu hướng “hạ giá” một ngành khoa học, thay vì tăng sự công nhận dành cho nữ giới. Lịch sử cho thấy “khoa học cứng” vẫn luôn được chú trọng, tôn sùng và đầu tư hơn cả. (Đã có lúc “cứng” phủ nhận “mềm”, tỉ như tranh cãi rằng liệu tâm lý học có phải là khoa học chân chính!).

Một hệ quả có thể xảy ra là nguồn tài trợ giảm, và các nhà nghiên cứu nữ sẽ không được trả công xứng đáng. Định kiến giới về STEM cũng có thể ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp của người trẻ, nhất là những học sinh ưu tú.

Alysson Light, một thành viên của nhóm nghiên cứu viết trên trang The Conversation: cái mác “khoa học mềm” có thể không hấp dẫn được những ai muốn chứng tỏ năng lực của mình. Hoặc ngược lại, cái mác “khoa học cứng” sẽ làm nhụt chí những ai không mấy tự tin, mà phần nhiều trong số đó lại là phụ nữ.

Đáng lẽ, những thành tựu khoa học tạo ra bởi phụ nữ phải là minh chứng hùng hồn cho năng lực và đam mê của họ, giúp xóa bỏ những định kiến phân biệt giới tính. Nhưng kết quả nghiên cứu trên gợi ý điều ngược lại: định kiến vẫn tồn tại trong nhiều người, ngay cả khi họ biết rằng số lượng phụ nữ làm việc - hiệu quả và hăng say - trong các lĩnh vực STEM đang tăng.

 

 Ảnh: iStock

Nữ + STEM = Hy sinh

Bất bình đẳng giới không chỉ tồn tại ngoài đời thực, mà còn trên phim ảnh và truyền hình. Viện nghiên cứu Geena Davis về Giới trong Truyền thông đã thực hiện một số nghiên cứu trong nhiều năm liền, cho thấy sự thiếu vắng và lép vế của các nhân vật phụ nữ và trẻ em gái trên các phương tiện truyền thông liên quan đến STEM.

Cách đây 10 năm, tổ chức phi lợi nhuận này thống kê được rằng: trong các chương trình dành cho trẻ em ở Mỹ, số lượng nhân vật nam làm việc trong các ngành STEM nhiều gấp… 15 lần số lượng nhân vật nữ. Ngày nay, tỉ lệ đó - khi gộp chung với những chương trình dành cho người lớn - được rút ngắn còn 2:1, cả ở Mỹ và Anh, hai quốc gia chuyên xuất khẩu các nội dung giải trí và giáo dục hàng đầu thế giới.

“Khi các em gái trong độ tuổi mới lớn không nhìn thấy nhân vật nữ nào trên màn ảnh làm nghề hóa sinh, phát triển phần mềm, kỹ thuật hay thống kê, các em sẽ hiếm khi hình dung hoặc chính mình theo đuổi những con đường sự nghiệp đó” - Geena Davis, diễn viên đoạt giải Oscar và nhà hoạt động về giới, khẳng định trong báo cáo “Portray Her” năm 2018 của viện này.

Tăng thêm số nhân vật nữ là một chuyện, nhưng mô tả họ như thế nào để tạo ra hiệu ứng tích cực lại là chuyện khác. Hình mẫu nhà khoa học nữ điển hình thường là người da trắng rất thông minh, chưa lập gia đình và không có con. “Những mô tả này củng cố thành kiến rằng: trở thành một nhà khoa học không tương thích với việc làm cha mẹ - theo nhận định trong báo cáo - điều đó gửi đi một thông điệp chán nản đến những phụ nữ trẻ…”.

Báo cáo “Portray Her” (tạm dịch là: chân dung cô ấy) chọn lọc và phân tích một loạt các văn hóa phẩm từ năm 2007 đến 2017. Theo đó, tần suất đối mặt với nghịch cảnh của các nhân vật nam và nữ trong ngành STEM chênh lệch không đáng kể; nhưng so với vai nữ, các vai nam thường dễ vượt qua khó khăn gian khổ hơn.

Điều thú vị là hơn 40% nhân vật rơi vào tình thế phải “hy sinh cuộc sống cá nhân vì sự nghiệp”, bất kể giới tính. Dẫu vậy, những cốt truyện đó sẽ ảnh hưởng đến phụ nữ nhiều hơn đàn ông, bởi vì họ vốn được nuôi dạy để trở thành người xây tổ ấm - một sự phân công đã bám rễ trong nhiều nền văn hóa. Thực tế là trong số các em gái và phụ nữ tham gia khảo sát, chưa đến 50% cho rằng nghề nghiệp về STEM có thể song hành với việc xây dựng gia đình. Niềm tin này có thể khiến họ đổi hướng đi trên hành trình theo đuổi STEM của mình.

Một điểm đáng lưu ý khác là phần lớn các nhân vật nữ trên màn ảnh là bác sĩ y khoa hay các ngành khoa học đời sống khác, thậm chí còn đông hơn cả nam giới. Tuy nhiên, với các nghề khoa học tự nhiên, như kỹ sư máy tính, số lượng vai nữ ít hơn đáng kể.

Lại nói về “nghịch cảnh”, các nhân vật nữ thuộc ngành khoa học đời sống, tuy rất phổ biến, nhưng ít phải hy sinh vì sự nghiệp hơn các vai nữ theo đuổi những ngành STEM khác. Điều này có nghĩa là các phương tiện truyền thông giải trí đang củng cố những định kiến giới sẵn có, vốn giới hạn người phụ nữ trong một vài nghề nghiệp STEM nhất định, báo cáo “Portray Her” kết luận.

Sau tất cả, bức tranh không hoàn toàn xám xịt! Chân dung nhà khoa học, kỹ sư, nhà phát minh nữ trên các phương tiện truyền thông cũng đã giúp tạo ra nhiều tác động sâu sắc đến khán giả nữ. Cùng trong năm 2018, nghiên cứu “Hiệu ứng Scully” của Viện Geena Davis, đã đánh giá sức ảnh hưởng của đặc vụ Dana Scully (do Gillian Anderson thủ vai) trong series phim truyền hình nổi tiếng Hồ sơ tuyệt mật (The X-Files).

Gần 2/3 số phụ nữ đang làm việc trong lĩnh vực STEM cho biết Scully là hình mẫu của họ, giúp họ tự tin hơn, để trở nên xuất sắc ngay cả khi lĩnh vực đó vốn được thống trị bởi nam giới. (Thông tin bên lề: Không thoát khỏi môtip hy sinh gia đình, nhân vật Dana Scully không thể làm mẹ. Điều đó khiến cô vô cùng đau đớn).

Tóm lại, cách chúng ta miêu tả chân dung người phụ nữ theo đuổi STEM trên các phương tiện truyền thông, văn hóa, giải trí rất quan trọng, vì nó có thể dung dưỡng các định kiến, hoặc giúp ta phá bỏ chúng. Hơn hết, cuộc cách mạng bình đẳng giới trong STEM không chỉ xoay quanh những con số đang tăng, mà cần những thay đổi toàn diện, tinh vi hơn, cùng hoạt động đánh giá thường xuyên. ■

 

 

 Ảnh: Viện Geena Davis về Giới trong Truyền thông

Theo báo cáo “Portray Her”, 4 trên 5 người tham gia khảo sát nói rằng: được trông thấy phụ nữ thủ vai các nhân vật STEM trên tivi là một việc quan trọng với họ. Những người dự định theo đuổi sự nghiệp STEM cũng cho biết về các nhân vật truyền hình đã ảnh hưởng đến lựa chọn của họ. Dưới đây là top 12 nhân vật trên màn ảnh Mỹ đã truyền cảm hứng cho nhiều phụ nữ và trẻ em gái:

1. April Sexton (Chicago Med)

2. Addison Montgomery 
(Private Practice)

3. Temperance Brennan (Bones)

4. Meredith Grey (Grey’s Anatomy)

5. Abby Sciuto (NCIS)

6. Abby Lockhart (ER)

7. McKeyla McAlister 
(Project Mc2)

8. Alexx Woods (CSI:Miami)

9. Dana Scully (The X-Files)

10. Amy Farrah Fowler 
(Big Bang Theory)

11. Mindy Lahiri 
(The Mindy Project)

12. Doc McStufns (Doc McStufns)

LÊ MY

 

Tag:phụ nữ, định kiến ,bất bình đẳng, định kiến giới, phân biệt giới tính ,nữ khoa học