Kỳ I

Tôi đang lang thang trước cổng Trường đại học Tổng hợp Stockholm thì gặp một thanh niên người I-ran, tiến sĩ lịch sử Thụy Điển, cư trú chính trị ở đây đã 7 năm. Qua câu chuyện tán gẫu, anh nhận xét là người Thụy Điển có đầu óc tổ chức tuyệt vời. Đến nay họ còn giữ được tài liệu về tên tuổi, của cải từng người dân ở nhiều xã đạo từ thế kỷ 17; anh còn thấy là người Thụy Điển không ưa hòa mình vào xã hội, nhưng không phải vì thế mà không tử tế.

Từ biệt anh thanh niên I-ran, trên đường ra ga xe điện ngầm, tôi nhớ tới lời mào đầu của Giáo sư xã hội học Goran Therborn (Gô-ran Tec-booc) ở Goteborg, trước khi ông trình bày ý kiến của ông về tâm tính Thụy Điển. Ông cho là, trong lĩnh vực này phải rất thận trọng, nếu không sẽ đi đến chỗ khiên cưỡng, gán ghép, rơi vào đầu óc chủng tộc; đây là một lĩnh vực rất tương đối, thay đổi tùy theo thời kỳ lịch sử, theo vùng, theo cả từng cá nhân. Ông nhấn mạnh một số đặc điểm dân tộc Thụy Điển: tính bình quân khá rõ trong phân phối lợi tức, bình đẳng nam nữ, tìm hiệu quả qua năng động đua tranh, tính tổ chức, tổng thể, đi đôi với tính độc lập và cá nhân cao, thích chính sách của cải hợp lý, tính nông dân, tính dè dặt ngần ngại với người lạ, tính thích đơn lẻ...

Một hôm, trước khi ăn cơm tối, ngồi nói chuyện với giáo sư xã hội học Edmund Dalhstrom (Et-mun Đan_strôm) ở Goteborg, tôi lại nêu vấn đề về tính dân tộc Thụy Điển, ông nhấn mạnh là có nhiều nét chung cho các dân tộc Bắc Âu cùng một nền văn hóa và lịch sử Scandinavia. Ông nhắc lại một số đặc điểm mà giáo sư Goran Therborn đã nêu, rồi cười nói:

- Người Thụy Điển “tránh va chạm”, sợ va chạm, đến mức nhà văn Mỹ Susan Sontag (Xu-dơn Xơn-tác) phải kêu lên: “tính tránh va chạm của người Thụy Điển hầu như có tính chất bệnh hoạn”. Do đó, chính trị hướng về trung lập, không bảo thủ mà cũng chẳng cách mạng, cứ lừa lựa đứng giữa...

Tôi nói đùa:

- Thế là nhại thuyết Trung Dung của cụ Khổng à?

- Ông đứng dậy, quay ra sau lưng rút một quyển sách - phòng sinh hoạt gia đình rất đẹp của ông đặt những giá sách chật ních. Đó là cuốn Tâm tính Thụy Điển viết bằng tiếng Thụy Điển của Ake Daun (Ê-cơ Đaon), giáo sư dân tộc học ở Stockhom. Sau đây, tôi xin lược một số ý chủ yếu theo bản tóm tắt tiếng Anh của nhà xuất bản này.

Những năm 80 thế kỉ XX, ở Thụy Điển, các giới nghiên cứu bắt đầu lại chú ý đến tính dân tộc Thụy Điển vì nhiều lý do. Trước hết, do hiện tượng quốc tế hóa thế giới (lao động di cư, hàng triệu người tị nạn, quan hệ buôn bán tăng vọt, phương tiện thông tin đại chúng bùng nổ...). Ở Thụy Điển, 10% dân số là người nhập cư, họ mang đến nhiều mẫu văn hóa khác, do đó, phải hiểu mẫu Thụy Điển để quan hệ xã hội có lợi nhất. Muốn kinh doanh cho tốt trên thị trường quốc tế, cần hiểu biết tâm tính, nền văn hóa của bạn hàng khác mình thế nào. Ngoài ra, hiện có khuynh hướng hơi bi quan về tương lai xã hội, nên người Thụy Điển thích nhìn vào bên trong và trở về nguồn gốc mình.

Về mặt giao tiếp xã hội, người Thụy Điển tỏ ra ngần ngại, dè dặt, thích tự chủ, không lệ thuộc người khác, thích đơn lẻ. So sánh sinh viên Thụy Điển với sinh viên Mỹ, thì sinh viên Mỹ không dè dặt hay giấu sự dè dặt ấy, nếu không, họ sẽ bị coi là thiếu thông minh tháo vát. Trái lại, sự dè dặt ở Thụy Điển lại được đánh giá là có cân nhắc suy nghĩ, có lẽ cũng do tâm lý họ hướng về nội tâm. Cũng có thể vì vậy họ thích yên ổn; trong nói chuyện, nhiều người không thích đặt câu hỏi, tránh thảo luận sâu vấn đề, trừ khi trong gia đình bè bạn - ấy là loại trừ chuyện trò về nghề nghiệp, hay về các đề tài họ thành thạo, có ranh giới rõ rệt giữa công việc và việc tư (gia đình, bè bạn). Tính thích yên ổn đó còn thể hiện qua khía cạnh tránh va chạm và phản ứng mặt đối mặt. Mỗi người phải ứng xử (hành động, ăn mặc, nói năng...) đúng với bản sắc tầng lớp xã hội của mình. Có thể có một nguyên nhân nữa của sự dè dặt trong giao tiếp xã hội, là vì họ phải đối phó với cái mới trong một xã hội thay đổi quá nhanh; tình trạng biến đổi giai cấp, vùng nông thôn chuyển sang thành thị.

Người Thụy Điển tha thiết với độc lập cá nhân hơn người Phần Lan, Ý, Mỹ. Họ thích đi dạo chơi một mình, dĩ chí sống một mình. Sinh viên thích sống lẻ, do đó, cư xá sinh viên được bố trí theo hướng đó. Trái lại, sinh viên Mỹ thích có bạn ở cùng phòng. Giáo dục trẻ em đề cao tính độc lập và tự chủ. Nhu cầu độc lập cá nhân và tự chủ có ảnh hưởng gì đến tỷ lệ ly dị cao và đến hiện tượng nam nữ chung sống không cưới xin, đó là vấn đề cần nghiên cứu.

Cũng như người Nhật, người Thụy Điển thích đi đến thỏa thuận. Giáo dục trẻ con Thụy Điển, nhấn mạnh đến tránh va chạm. Phong cách quản lý Thụy Điển tránh đối đầu, xung đột, nặng về điều đình, thương lượng.

Lương thiện cũng rất được đề cao ở Thụy Điển, mặc dù những năm gần đây cũng bị thách thức nhiều (trốn thuế). Lương thiện không hiểu riêng về vấn đề của cải, là một truyền thống. 60% người Thụy Điển cho nói dối là xấu (tỷ lệ Đan Mạch: 13%, Phần Lan: 22%, Na Uy: 38%, châu Âu - Địa Trung Hải: 26%).

Giống như người Nhật, người Thụy Điển không ưa biểu lộ cảm xúc: họ ít hôn nhau, vuốt ve, nói lời tình cảm, ngay trong gia đình. Người nước ngoài thấy nhiều người Thụy Điển ít nói, ít bắt chuyện.

Người Phần Lan so với người Thụy Điển nóng tính hơn. Khi không được cái mình muốn, 19% người Thụy Điển nổi cáu (tỷ lệ Phần Lan: 31%). Người Thụy Điển tương đối ít xúc cảm hơn, và phản ứng xúc cảm không mạnh bằng một số dân tộc khác. Khi được tin Tổng thống Kennedy bị ám sát, số người Mỹ khóc nhiều gấp đôi số người Thụy Điển khóc khi được tin Thủ tướng Olof Palme bị ám sát.

Nhiều người nước ngoài nhận xét là người Thụy Điển sống nghiêng về lý tính, dư luận từ lâu bị chủ nghĩa duy lý chi phối.

Người Pháp đọc thơ Thụy Điển ngạc nhiên thấy “ngôn ngữ sao cụ thể thế, những nhận xét sao chính xác thế”. Người nước ngoài nhận thấy người Thụy Điển thích lập luận, bằng vào sự việc và cụ thể hơn là óc tưởng tượng tư biện và cảm tính, do đó mà họ kế hoạch hóa có hiệu quả, có khả năng điều đình, thỏa thuận trên cơ sở lý tính. Từ những năm 30 thế kỷ XX, đường lối chính sách Thụy Điển nổi tiếng về tính hợp lý và những biện pháp thực tiễn. Cũng do đó mà người Thụy Điển nghiêm túc, ít hồ hởi, họ không hay cười, hay đùa giỡn như người Mỹ. Cũng vì chú trọng sự việc và luôn trình bày thẳng sự việc, họ hình như còn ít đất cho hài hước và bóp méo sự việc mua vui. Điều này cũng không thích hợp cho tư duy tư biện; khoa học xã hội Thụy Điển gắn liền với sự việc cụ thể.

Kỳ II ( tiếp theo và hết)

Nhiều người nước ngoài cho tính tình người Thụy Điển u buồn, không vui. Điều này không hợp với nhiều người Thụy Điển tự đánh giá mình là vui vẻ, sung sướng. Quan niệm vui và hạnh phúc có thể khác ở Thụy Điển, một nước đặt tính chất hợp lý và phúc lợi vật chất lên trên tính nhạy cảm và các giá trị phi vật chất (tôn giáo, nghệ thuật, tiếp xúc cá nhân). Mặt khác, tính “u buồn” của người Thụy Điển (nếu có) thường được giải thích bằng hai yếu tố: khí hậu Bắc Âu và khuynh hướng đạo Tin lành Luther: có tính “thanh giáo”, hạn chế thú vui, tiện nghi vật chất. Mặc dù Thụy Điển đã là nước mà chính trị tách rời khỏi tôn giáo khá triệt để, những hạn chế này vẫn khá mạnh trong những giá trị văn hóa vẫn có tính tôn giáo làm nền.

Còn người Thụy Điển tự nhận thấy mình thế nào? Học sinh (tuổi 15-16) thấy chủ yếu người Thụy Điển sống căng thẳng, có tính thể thao, ăn mặc đẹp, hiện đại. Những đại diện nhân dân có tính chất chung (16-74 tuổi) nêu lên đặc tính: ghen tị, cứng nhắc, cần cù, yêu thiên nhiên. Một số người kinh doanh nêu mấy điểm: tổ chức tốt, đáng tin cậy, hợp lý, có hiệu quả.

Đất nước Thụy Điển xinh đẹp.

Đất nước Thụy Điển xinh đẹp.

Sau khi nêu lên một số đặc điểm dân tộc Thụy Điển, Ake Daun tìm nguồn gốc giải thích. Ông nói ngay là cho đến nay, chưa có phương pháp nào đáng tin cậy gỡ ra những đầu mối thật chính xác trong mớ bòng bong lịch sử. Dù sao, cũng có một số suy diễn có lý như sau:

Có nhiều nhà nghiên cứu tìm thấy lý do là người Thụy Điển phải thích nghi tâm lý trong cuộc đấu tranh qua nhiều thế kỷ, chống một thiên nhiên ác nghiệt của một miền rộng lớn, nhiều sông, ngòi, hồ, biển, dân cư thưa thớt, tản mạn. Do đó, nảy sinh đầu óc thực tế để sinh tồn. Mặt khác, cuộc sống ở nông thôn vất vả quá nên ít có thời giờ nghỉ ngơi, giải trí, chuyện trò thoải mái, thể hiện tình cảm dồi dào, tuy rằng đời sống nông dân Bắc Âu không phải chỉ xoay quanh công việc đồng áng

Ở làng xóm Thụy Điển không có quán (pub) như ở Anh, quán nhậu như ở miền Nam châu Âu. Những cuộc vui chung có tính chất xã hội đều tổ chức nhân những dịp các lễ tôn giáo. Cuối thế kỷ 19, những phong trào quần chúng (một số nhà thờ Tin lành ly khai, chống nghiện rượu, phong trào công nhân) đều là những dịp hoạt động xã hội (diễn thuyết, âm nhạc, lễ hội,...) nhưng cũng chỉ là yếu tố phụ. Cuối thế kỷ 19, những con người chịu giáo dục nghiệt ngã của đạo Tin lành Luther ấy kéo ra thành thị ào ạt, nhất là sau Đại chiến II. Quá trình công nghiệp hóa và thành thị hóa đến chậm, nhưng từ những năm 50 (thế kỷ 20) thì như vũ bão. Quần chúng đi ra tỉnh từ nửa thế kỷ nay, gồm những người ít nói năng, hướng về thực tế, tìm cái gì được việc để ứng xử.

Cần tìm thêm trong lịch sử những lý do giải thích tính dè dặt, yên lặng, nghiêm nghị... Tuy ngày nay, số người Thụy Điển xa “tính cách nông thôn” ngày càng nhiều, nét điển hình ấy vẫn còn khá đậm.

Tổ chức hành chính Thụy Điển từ thế kỷ 16-17 đã là của một quốc gia trung ương tập quyền, nên do đó, về tổ chức đã đi vào kỹ thuật cao hơn nhiều nước; cuộc sống hiện đại lại càng đẩy nhanh khuynh hướng ấy. Hệ thống chặt chẽ này đòi hỏi các công dân phải ngang nhau: xếp hàng, điền vào chỗ trống ở một tờ khai, tiếp xúc bằng thư hay điện thoại với bộ máy chính quyền. Vì vậy, tiếp xúc xã hội giảm đi nhiều. Gặp nhau vì công việc bớt đi. Một người Thụy Điển dè dặt, ngại ngùng tiếp xúc xã hội không bị lép vế như người dân ở Pháp chẳng hạn. Ở Thụy Điển, những yếu tố bè bạn, quen biết, có tài hấp dẫn, tài lập luận bị hạn chế tối đa bởi tổ chức.

Hệ thống xã hội Thụy Điển ngăn cách cái chung và cái riêng. Nhiều người nhập cư có quan hệ rất tốt với người Thụy Điển ở nơi làm việc, tưởng có thể phát triển quan hệ giao du ngoài công việc nhưng không phải thế. Có nhà nghiên cứu giải thích nét đặc trưng này bằng những cải cách ruộng đất rộng rãi vào thế kỷ 18-19; những mảnh đất nhỏ của cá thể được tăng cường thành ruộng đồng lớn, và những công trình xây dựng của trang trại trước kia ở sát nhau trong phạm vi làng được chuyển đến ruộng đồng của cá thể. Trước kia, công việc đồng áng cần phải phối hợp với nhau thì sau đó thôi không cần nữa. Trung tâm tập thể chuyển sang hộ gia đình.

Đa số nông dân sống độc lập. Mặc dù có những biến chuyển xã hội lớn (dân số tăng trong thế kỷ 19, công nghiệp hóa tăng nhịp độ ở cuối thế kỷ ấy), những quan hệ xã hội dưới góc độ này chịu ảnh hưởng rất hạn chế qua nhiều thế hệ. Không có chiến tranh và cách mạng, không bị chiếm đóng quân sự của nước ngoài, đó là những điều kiện có ảnh hưởng đến tâm tính Thụy Điển. Ngoài ra, cũng phải kể đến sự phát triển của Nhà nước, đặt trọng tâm vào phúc lợi nhân dân và bảo hiểm xã hội.

“Khí hậu tinh thần” này có thể giải thích tại sao ít có va chạm cá nhân trong đời sống hàng ngày. Người Thụy Điển tương đối không thành thạo khi phải tranh luận hùng hổ hay chống lại một sự tấn công. Khi gặp một việc hỗn láo, họ phản ứng chậm, có phần vì tiếng Thụy Điển ít từ chửi rủa. Họ tránh những cuộc đụng độ công khai, muốn tìm những biện pháp thương lượng.

Xã hội Thụy Điển luôn biến chuyển, do đó, tâm tính cũng biến chuyển. Người nhập cư nhiều từ sau Đại chiến II đã làm nổi bật một số biến chuyển. Trước kia, người Thụy Điển hình thức, cứng nhắc và dè dặt hơn; ngày nay, họ thoải mái trong ứng xử hơn. Đời sống công cộng, giải trí và công việc mang màu sắc quốc tế hóa cao. Xu hướng ấy, với tác động của hơn 10% dân số là người nhập cư, ảnh hưởng thế nào đến tâm tính Thụy Điển: đó là vấn đề cần nghiên cứu tiếp.

Nhà văn hóa Hữu Ngọc

 

Tag:Thuỵ điển, tính cách, lối sống